KHÁM PHÁ THẾ GIỚI ĐỒNG HỒ ĐEO TAY CỔ XƯA TẠI VIỆT NAM 1950-1970

KHÁM PHÁ THẾ GIỚI ĐỒNG HỒ ĐEO TAY CỔ XƯA TẠI VIỆT NAM 1950-1970 

Tại Việt Nam, thế giới đồng hồ đeo tay cổ xưa được ghi nhận thịnh vượng khoảng thập niên 50-70 của thế kỷ trước. Ban đầu, đồng hồ đã du nhập vào nước ta theo bước chân của người Pháp, những nhà tri thức Tây học, rồi kết thúc khi người Mỹ rời khỏi đây.

Longines Đô đốc Đại tướng quân 5 saoLongines Đô đốc Đại tướng quân 5 sao (Admiral 5 Stars), đỉnh cao về đồng hồ dành cho sĩ quan cấp tướng tá

 

Trong thập niên 30, đồng hồ đeo tay chỉ mới xuất hiện, đến thập niên 40 thì mới dần đông đúc. Từ thập niên 50 đến 70 chính là thời kỳ hoàng kim của chúng tại Việt Nam.

Nếu chia theo giai đoạn thì sẽ có 3 khoảng thời gian đáng chú ý. Thập niên 60 trở về trước thế giới đồng hồ đeo tay cổ xưa ở Việt Nam bị ảnh hưởng bởi người Pháp. Thập niên 60-70 bị ảnh hưởng bởi người Mỹ. Thập niên 80-90 ảnh hưởng bởi người Nhật. Năm 2000 trở về sau thì chính thức trở thành nơi có đa văn hóa đồng hồ đeo tay.

Sẽ có rất nhiều câu chuyện xoay quanh chúng nhưng nhìn tổng thể từ 1950-1970, ta có thể đúc kết ra được 5 sự thật như sau:

1 – Chủ yếu là đồng hồ dây da

2 – Đồng hồ mạ vàng (lắc kê) là xu hướng

3 – Đồng hồ Nhật là đồ “rẻ tiền”

4 – Omega là thương hiệu được thích nhất

5 – Rất mỏng và rất nhỏ

“Qua 5 sự thật này, dáng hình của một chiếc đồng hồ đeo tay cổ xưa phổ biến tại Việt Nam có thể mô tả sơ lược như sau: Thương hiệu Thụy Sĩ – Dây da – Lắc kê vàng – Đường kính dưới 34mm – Dày không quá 11mm – Mặt vòm”

Nhìn lại chặng đường dài hơn 30 năm, những thứ có thể nói về đồng hồ đeo tay cổ xưa ở Việt Nam là vô hạn. Bởi thế, sau khi đã đúc kết lại 5 đặc trưng của đồng hồ đeo tay cổ phổ biến từ 1950-1970, chúng ta hãy đi vào phần khám phá chi tiết hơn bên dưới.

 

SỰ THẬT 1 – CHỦ YẾU LÀ ĐỒNG HỒ DÂY DA, DÂY SẮT RẤT ÍT GẶP

Như chúng ta vẫn biết, đồng hồ dây da thì luôn thanh lịch và nhẹ nhàng, còn dây kim loại nặng nề vốn được sinh ra để có thể chịu được những điều kiện khắt nghiệt hơn. Chúng có thể hoạt động ngoài trời, chịu nước tốt, loại bỏ yếu điểm đáng ghét dây da như hôi, kén mồ hôi.

Điều này hoàn toàn không có vấn đề gì to tát ở nước ngoài, tuy nhiên, ở Việt Nam thì lại khác. Trong thời đại này, kể cả từ những thương hiệu bình dân nhất đều rất đắt đỏ so với một tháng lương công chức thời Pháp thuộc, thời Cộng hòa.

Bởi thế, những người có thể sử dụng hầu như đều là quan quyền, chính khách, giới thượng lưu, sĩ quan cấp cao hoặc ít nhất phải là người trí thức. Họ thường chỉ ngồi bàn giấy, không phải làm những công việc nặng nhọc, không cần đến độ bền nhưng “kém trang nhã” của dây kim loại nói chung.

Những mẫu nổi tiếng nhất, dòng được ưa chuộng nhất trong thời này hầu như là dây da, từ hạng sang, cao cấp như Omega, Longines đến bình dân như Wyler, Telda.

Thêm vào đó, cổ tay người Việt vốn không to, dây da sẽ mang lại cảm giác rất nhẹ, không làm vướng bận. Thậm chí, ngay cả khi là đồng hồ “nồi đồng cối đá” của Seiko hay Liên Xô, người ta vẫn thích thay cho chúng dây da.

Đồng hồ đeo tay cổ Telda lên dây Cal.FHF 28 năm 1950Đồng hồ đeo tay cổ Telda lên dây Cal.FHF 28 năm 1950, thương hiệu Thụy Sĩ cực kỳ phổ biến ở Việt Nam từ 1930-1970 (Telda thương hiệu của hãng Charles Nicolet, ra đời khoảng năm 1920, rất nổi tiếng tại Pháp và thuộc địa của Pháp)

 

Còn đồng hồ dây kim loại vốn được chế tạo để bền bỉ, phục vụ cho những người có việc làm chuyên nghiệp như lặn, thợ nghề, công nhân, binh lính nên thường thô dày, to lớn.

Hiển nhiên, vẫn có rất nhiều đồng hồ dây kim loại tao nhã và sang trọng từ các ông lớn hàng đầu như Omega, Rolex, Patek nhưng chúng vẫn không phổ biến ở Việt Nam.

Và cho dù là dây kim loại thì của Thụy Sĩ giá vẫn đắt đỏ như thường. Hàng Nhật vừa nhiều vừa rẻ nhiều nhưng lại không có “đường lớn” nhập khẩu vào nước ta. Nguyên do có thể là do sự phủ sóng mạnh mẽ của Mỹ, Liên Xô, Pháp.

Đồng hồ của các nước này lẫn “gu” đồng hồ của họ luôn ảnh hưởng sâu đậm đến người Việt trong suốt thời gian hiện diện, người Nhật khó mà chen chân. Những mẫu dây kim loại vào đến Việt Nam chủ yếu là “xách tay” bởi quân đội nước ngoài (Mỹ, Liên Xô), chứ không phải hàng dân dụng.

Điển hình như Orient pháo binh, Seiko Sportmatic 5, Seiko 5, Seikomatic từ Nga như Vostok Amphibia, Pobeda, Raketa, Poljot. Đặc điểm chung của chúng là bền và rẻ hơn nhiều so với đồng hồ Thụy Sĩ, phù hợp với lương của quân nhân (miền Nam), hoặc cấp cho sĩ quan quân đội nhân dân (miền Bắc).

Seiko Sportmatic 5 1963 máy Seikosha 410Seiko Sportmatic 5 1963 máy Seikosha 410 21 Jewel với dây thép, Sportmatic 5 (tiền thân của Seiko 5) chính là dòng đi tiên phong sử dụng dây thép của Seiko

 

Ngoài việc thẩm mỹ thời bấy giờ chuộng dây da hơn, sự khác biệt của “tầng lớp” sử dụng, giá thành đã dẫn đến việc đồng hồ dây kim loại được xem là “thấp” hơn dây da một bậc.

Bình quân, giá đồng hồ dây da rẻ lắm cũng phải từ 1 chỉ vàng trở lên, phần lớn rất sang trọng với kiểu dáng-chức năng như “2 kim rưỡi” (kim giây nhỏ), “lịch lộc” (lịch ở 6 giờ), “lắc kê” (bọc vàng), “mặt lụa” (mặt số có họa tiết lụa), mỏng (dưới 10mm).

Ngược lại, đồng hồ dây kim loại thì có thể rẻ hơn gấp 3 lần, chủ yếu do các “ông bé” kém danh tiếng từ Nhật như Seiko, Orient, Citizen cung cấp, to dày gồ ghề “như cái cối”, rất ít mẫu thanh lịch.

Longines vàng đặc 18k 2 kim rưỡiMột chiếc Longines vàng đặc 18k 2 kim rưỡi, dây da, thiết kế thanh lịch siêu kinh điển của giới thượng lưu Việt Nam ngày xưa

 

Định kiến về dây da và dây kim loại tồn tại suốt từ khi mẫu đầu tiên du nhập (khoảng thập niên 30), đến đầu thập niên 70 thì bắt đầu biến mất. Lúc này, người Việt phần nào đã nhận ra được ích lợi của dây kim loại sau hàng chục năm sử dụng, ít nhất là với công nhân viên chức thu nhập bình thường.

Xu hướng này lại càng mạnh mẽ hơn sau năm 75, đất nước khó khăn, kinh tế trì trệ, người ta không có tiền mua đồng hồ Thụy Sĩ, con đường nhập khẩu cũng lắm gian truân. Từ đây, Seiko, Orient “giá rẻ chất lượng” được mở lối để tràn vào thị trường.

Đến cuối thập niên 70, đồng hồ Thụy Sĩ thất thế bởi “sóng thần thạch anh” từ Seiko, “gu” đồng hồ Nhật dây kim loại “dày cui” bền chắc trỗi dậy. Thời huy hoàng trong những năm 80, 90 với các đỉnh cao như Seiko “nữ hoàng”, Seiko “chặt góc”, Orient SK “mặt lửa”, Orient 3 sao, Orient AAA.

 

 

https://casiovietnam.net/dong-ho-nam-casio-mtp-vd01l-2bvudf-day-da-mau-xanh-nen-mat-mau-xanh-kim-da-quang

https://casiovietnam.net/dong-ho-nam-casio-mtp-vd01sg-9bvudf-day-kim-loai-ma-vang-nen-mat-mau-vang-kim-da-quang

https://casiovietnam.net/dong-ho-nam-casio-mtp-vd01sg-1bvudf-day-kim-loai-ma-vang-nen-mat-mau-den

 

Lại nói, mặc dù các ông không chuộng dây kim loại nhưng các bà thì rất chuộng, không kém gì dây da. Tại sao lại như vậy? Rất đơn giản, dây kim loại trên đồng hồ đeo tay nữ thời xưa đa phần là dạng lắc tay, trang sức, tính ra, trông chúng còn đẹp quý phái hơn cả dây da nữa.

Ngặt nỗi, nữ giới không chuộng đồng hồ đeo tay như nam giới. Không có nhiều đồng hồ được mua, lẽ đương nhiên, nếu tính tổng số thì thời xưa dây da vẫn được yêu thích hơn dây kim loại rất nhiều.

Leave a Reply